Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của luật sư
trong quá trình tham gia tố tụng
Căn cứ hướng dẫn tại văn bản số
4499/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 14/11/2022 của Bộ Tư pháp đối với hành vi vi
phạm của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng; xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy tín của Tòa án; xúc phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền hoặc những người khác thực hiện
nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án quy định tại: Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố
tụng (khoản 3, khoản 5 Điều 15 và khoản 3, khoản 5 Điều 21), Nghị định số
82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi
hành án dân sự, phá sản (điểm c khoản 6 Điều 6);
Ngày 14/12/2022, Sở Tư pháp đã ban hành
văn bản số 2562/STP-QLXLVPHC&TDTHPL gửi Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có liên
quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện trong khi phối hợp, thiết lập hồ
sơ xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nêu trên của luật sư trong
quá trình tham gia tố tụng lưu ý thực hiện như sau:
1.
Về nguyên tắc áp dụng
pháp luật
Theo quy định của khoản 2 Điều
156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khi các văn bản quy phạm pháp
luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực
pháp lý cao hơn; do đó, khi xử lý hành vi nêu trên thì cơ quan, người có thẩm
quyền xử phạt phải xem xét áp dụng quy định của khoản 3, khoản 5 Điều 15; khoản
3, khoản 5 Điều 21 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 để xử lý.
2.
Về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
a) Khi phát hiện luật sư có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy
tín của Tòa án; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền
hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án, thì cơ
quan, người có thẩm quyền phải căn cứ quy định của Pháp lệnh số
02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xử
lý, không áp dụng quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Trong trường hợp
này, Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành, Chánh Thanh tra của Sở Tư pháp, Trưởng
đoàn thanh tra chuyên ngành của Bộ Tư pháp; Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, Cục
trưởng Cục Bổ trợ tư pháp sẽ không có thẩm quyền xử phạt mà chỉ có một số chức
danh của Tòa án nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Công an nhân dân,
Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm… quy định tại Pháp lệnh số
02/82022/UBTVQH15 mới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
b) Trong quá trình phối hợp, lập biên bản
vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nêu trên của luật sư, để xác định
thẩm quyền của người lập biên bản vi phạm hành chính thì phải thực hiện theo
quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 12 Nghị định số
118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và
biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 43 Pháp lệnh số
02/2022/UBTVQH15./.