Nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (số 107/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 05/12/2025 tại Kỳ họp thứ 10 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Theo đó, có 33/57 điều của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật này nhằm thể chế chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, cải cách hành chính phục vụ nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp.
Đặc biệt, Luật có nhiều chính sách mới nổi trội thể hiện rõ tư duy đổi mới mạnh mẽ về cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, đổi mới quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Một số nội dung cơ bản như sau:
- Về cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Luật quy định cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp gồm Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an và Công an tỉnh, thành phố.
- Về khái niệm Thông tin lý lịch tư pháp về án tích (điểm o khoản 22 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp)
Luật bổ sung cụm từ "quyết định của bản án về biện pháp tư pháp" vào khoản 2 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp để phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau: "2. Thông tin lý lịch tư pháp về án tích là thông tin về cá nhân người bị kết án; tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, quyết định của bản án về biện pháp tư pháp, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí; ngày, tháng, năm tuyên án, Tòa án đã tuyên bản án, số của bản án đã tuyên; tình trạng thi hành án".
- Về mục đích quản lý thông tin lý lịch tư pháp (khoản 2 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 3 Luật Lý lịch tư pháp)
Mục đích quản lý thông tin lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp nhằm giúp công dân biết về thông tin lý lịch tư pháp của mình để giải quyết thủ tục hành chính của cá nhân, đồng thời quy định rõ mục đích hỗ trợ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức nhằm giảm thiểu tình trạng yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp trong công tác quản lý nhân sự.
- Về yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; việc sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp, thông tin lý lịch tư pháp (khoản 3 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp)
+ Về yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp
(1) Luật quy định "Công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam từ đủ 16 tuổi trở lên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình". Như vậy, các trường hợp cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cấp cho mình cả 2 loại Phiếu lý lịch tư pháp.
Đối với các trường hợp cá nhân dưới 16 tuổi, theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên hiện hành thì "người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi" (điểm a khoản 1 Điều 127) bị kết án được coi là không có án tích, do đó đương nhiên sẽ không có lý lịch tư pháp. Để thống nhất giữa các quy định trong hệ thống pháp luật, Luật số 107/2025/QH15 không quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho những cá nhân dưới 16 tuổi.
(2) Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (không được yêu cầu cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp), trong đó: Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử được "khai thác, sử dụng thông tin lý lịch tư pháp thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư" (khoản 1 Điều 50b). Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp yêu cầu cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để hỗ trợ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động giải quyết thủ tục hành chính được "khai thác, sử dụng thông tin lý lịch tư pháp thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư" (khoản 1 Điều 50b).
+ Về sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp, thông tin lý lịch tư pháp
(1) Luật quy định thông tin lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2.
(2) Đối với Phiếu lý lịch tư pháp số 1: Luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp số 1, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc nghị định, nghị quyết của Chính phủ quy định cần sử dụng thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ mục đích tuyển dụng, cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đối với các ngành nghề, vị trí việc làm có liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng hoặc để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại liên quan trực tiếp đến các đối tượng yếu thế trong xã hội.
Như vậy, quy định của Luật nhằm hạn chế các cơ quan, tổ chức và cá nhân (đại diện các doanh nghiệp tư nhân hoặc cá nhân cụ thể) yêu cầu cá nhân (người lao động hoặc cá nhân khác) cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp. Đồng thời, Luật cũng quy định mang tính chất "định khung" để một số trường hợp có thể yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và tính "nguyên tắc" trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung quy định yêu cầu cá nhân cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp.
- Về cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (điểm b, khoản 1 và khoản 6 Điều 1 bổ sung khoản 4a Điều 2 và sửa đổi, bổ sung Điều 11 Luật Lý lịch tư pháp)
(1) Luật bổ sung quy định cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân và các thông tin về số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân, họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, ngày, tháng, năm sinh, giới tính…(điểm b, khoản 1 Điều 1 bổ sung vào sau khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp). Các trường thông tin này được sửa đổi, bổ sung phù hợp với các trường thông tin theo quy định của Luật Căn cước, đảm bảo tính khả thi khi kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
(2) Luật quy định cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung, thống nhất tại Bộ Công an; cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được kết nối, chia sẻ thông tin với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác có liên quan theo quy định của pháp luật và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật công nghệ thông tin đảm bảo đảm bảo an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, thuận lợi cho việc thu thập, cập nhật, điều chỉnh, khai thác và bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục.
Nhằm bảo đảm nguồn thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung" phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và hiển thị thông tin lý lịch tư pháp trên VNeID, Luật quy định Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thu thập, tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu do mình quản lý và kết nối, chia sẻ đồng thời cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu là nguồn thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (khoản 6 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 11 Luật Lý lịch tư pháp). Đối với những thông tin lý lịch tư pháp hình thành trước ngày Luật có hiệu lực thi hành (01/7/2026), Luật quy định các Bộ, ngành và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an tổ chức kết nối, chia sẻ trước ngày 01/7/2026 để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Điều 3 Luật số 107/2025/QH15)
- Về Phiếu lý lịch tư pháp (khoản 17 và điểm o khoản 22 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 41 và điểm b khoản 2 Điều 43)
(1) Luật tiếp tục quy định duy trì 02 loại Phiếu là: Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cho cá nhân; Phiếu được cấp dưới dạng bản điện tử hoặc bản giấy và có giá trị pháp lý như nhau. Trường hợp Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử đã được cấp thì thông tin lý lịch tư pháp của công dân được cập nhật, hiển thị trên VNeID (được coi là một trường thông tin sẵn có tương tự như họ tên, ngày tháng năm sinh). Thông tin lý lịch tư pháp hiển thị trên VNeID có giá trị pháp lý như Phiếu lý lịch tư pháp, cá nhân không cần yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi có nhu cầu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi tối đa để người dân thực hiện dịch vụ mọi lúc, mọi nơi, mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, người dân, doanh nghiệp và công tác quản lý nhà nước, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, hội nhập quốc tế. Thông tin lý lịch tư pháp hiển thị trên VNeID được áp dụng kỹ thuật công nghệ bảo mật, Phiếu điện tử được áp dụng cơ chế xác thực để bảo mật, chống làm giả. Cá nhân sử dụng thông tin lý lịch tư pháp hiển thị trên VNeID không phải nộp phí cung cấp thông tin (khoản 5 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 10 Luật Lý lịch tư pháp).
(2) Luật bổ sung cụm từ "quyết định của bản án về biện pháp tư pháp" tại điểm b khoản 2 Điều 43 quy định về nội dung Phiếu lý lịch tư pháp số 2, cụ thể: "b) Đối với người đã bị kết án thì ghi đầy đủ án tích đã được xóa, thời điểm được xóa án tích, án tích chưa được xóa, ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Tòa án đã tuyên bản án,tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, quyết định của bản án về biện pháp tư pháp, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự…".
- Về thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp (khoản 18 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp) và thời hạn cấp Phiếu (khoản 19 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp)
(1) Luật quy định thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tuyến là "mặc định" để thể chế hóa chủ trương về phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là hình thức phi địa giới hành chính giúp người dân thực hiện thủ tục mọi lúc, mọi nơi. Trường hợp yêu cầu bằng hình thức này, cá nhân sẽ được cấp Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử (khoản 19 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp) qua ứng dụng VNeID và thông tin lý lịch tư pháp được cập nhật, hiển thị trên ứng dụng VNeID có giá trị sử dụng như Phiếu lý lịch tư pháp khi có nhu cầu (cá nhân chỉ phải yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp một lần).
Chỉ một số trường hợp là người nước ngoài, người chưa có định danh điện tử thì có thể yêu cầu cấp Phiếu bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính. Đối với trường hợp yêu cầu qua dịch vụ bưu chính thì gửi hồ sơ kèm chứng thực chữ ký của người yêu cầu theo quy định của pháp luật. Trường hợp yêu cầu trực tiếp thì nộp hồ sơ tại V06 hoặc PV06 Công an tỉnh, thành phố. Cá nhân yêu cầu bằng các hình thức này được cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng bản giấy (khoản 19 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp).
(2) Đối với các trường hợp ủy quyền
Cá nhân có thể ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu (đối với cả 02 loại Phiếu) nhằm tạo điều kiện tối đa cho người dân và được thực hiện trực tiếp, bưu chính.
Đối với trường hợp được ủy quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình hoặc người mà mình giám hộ có thể được thực hiện bằng hình thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua bưu chính.
(3) Thời hạn cấp Phiếu giảm xuống là 05 ngày làm việc. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể kéo dài hơn nhưng không quá 15 ngày./.