image banner
Những điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

          Trợ giúp pháp lý là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí là một hoạt động tiến bộ, có tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc vì con người và nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho con người, quyền công dân, đồng thời cũng là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới tại mục 7 phần IV Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân đã nêu rõ: “Nâng cao vai trò, tính chyên nghiệp và chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống trợ giúp pháp lý; mở rộng đối tượng trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước”. Chính sách về trợ giúp pháp lý luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, xác định là một nhiệm vụ quan trọng của các cấp chính quyền. 

          Ngày 23/4/2026, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017(sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý) với tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý gồm 03 Điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sửa đổi, bổ sung 24 Điều, bãi bỏ 02 Điều); Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.

          Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý gồm nhiều nội dung quan trọng liên quan đến mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý; hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống trợ giúp pháp lý nhà nước; nâng cao trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý; hoàn thiện quy định về trợ giúp viên pháp lý và tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý của người dân ngay từ cơ sở. 

          1. Mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý

          Trước đây, theo Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 có 08 nhóm người được trợ giúp pháp lý. Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý kế thừa toàn bộ 06 nhóm người được trợ giúp pháp lý tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017, bao gồm:

          - Người có công với cách mạng;

          - Người thuộc hộ nghèo;

          - Trẻ em;

          - Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

          - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân;

          - Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.

          Đồng thời kế thừa và mở rộng 03 nhóm người theo hướng được trợ giúp pháp lý không phụ thuộc vào yếu tố khó khăn tài chính là:

          - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ;

          - Người nhiễm chất độc da cam;

          - Người khuyết tật.

          Và 02 nhóm người không quy định theo tiêu chí “có khó khăn về tài chính” mà được mở rộng và quy định trực tiếp gắn với điều kiện cụ thể của từng nhóm; đó là:

          - Người thuộc hộ cận nghèo;

          - Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.

          Bổ sung mới hoàn toàn 05 nhóm người được trợ giúp pháp lý là:

          - Người dân tộc thiểu số rất ít người;

          - Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại;

          - Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này;

          - Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

          - Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.

          Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý quy định mở “Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật” để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn. Việc mở rộng diện được trợ giúp pháp lý góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý, thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân.

(Tư vấn pháp luật cho người có công với cách mạng tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng)

          2. Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn và cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm trợ giúp viên pháp lý

          Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý hoàn thiện quy định về trợ giúp viên pháp lý theo hướng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp thực tiễn. Một điểm mới đáng chú ý tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý là người đã từng là trợ giúp viên pháp lý được miễn điều kiện tập sự khi được xem xét bổ nhiệm lại, góp phần tận dụng nguồn nhân lực có kinh nghiệm  và giảm thủ tục không cần thiết. 

          Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý đã siết chặt hơn khi quy định trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ khi không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 12 tháng liên tục (Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định trong 02 năm liên tục); hoặc khi bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý tại khoản 1 Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo từ lần thứ 02 trở lên hoặc cách chức do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý). Những quy định này góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời bảo đảm cơ chế sàng lọc, duy trì chất lượng đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý.

          Bên cạnh đó, khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 bổ sung quy định trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên hết giá trị trong các trường hợp chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu, thay vì phải thực hiện thủ tục thu hồi thẻ như trước đây.

          3. Bổ sung quy định về điều kiện thành lập Chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý  nhà nước

          Theo Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý 2026 quy định về Chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước như sau: 

          Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.

          Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, sáp nhập Chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.

          Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý đã bỏ quy định về điều kiện địa bàn thành lập Chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước ở “các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện, chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý”. Điều kiện thành lập Chi nhánh được quy định theo hướng mở, đó là “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương” Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh nhằm bảo đảm tính chủ động, phù hợp thực tiễn và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.

          4. Mở rộng đội ngũ tham gia làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý

          Đối với cộng tác viên trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý mở rộng đối tượng tham gia là: người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng hoặc thôi việc vì lý do khách quan, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức khỏe và có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý, bao gồm người đã từng là: Trợ giúp viên pháp lý, Thẩm phán, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Điều tra viên, Chấp hành viên, Thẩm tra viên thi hành án dân sự, người giữ hạng, ngạch chuyên viên chính và tương đương trở lên làm công tác pháp luật; người giữ hạng, ngạch chuyên viên và tương đương có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; người đã từng là cộng tác viên trợ giúp pháp lý; viên chức giữ hạng III và tương đương làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên hoặc viên chức giữ hạng I, hạng II và tương đương làm công tác pháp luật và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc.

           Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cho người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định. Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với người được cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý để thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.

          5. Đơn giản hóa thủ tục hành chính

          Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Một số nội dung trước đây được quy định chi tiết trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 như hồ sơ, thời hạn bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý; thời hạn cử người thực hiện trợ giúp pháp lý trong một số vụ việc… nay được chỉnh sửa theo hướng tinh gọn, giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần đổi mới công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm tính linh hoạt trong thực tiễn thi hành.

          Luật cũng chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Đối với trợ giúp viên pháp lý, Luật bổ sung các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ theo hướng tương đồng với quy định về hành nghề luật sư; hoàn thiện quy định về miễn nhiệm, thu hồi thẻ; bổ sung trường hợp đương nhiên miễn nhiệm khi trợ giúp viên pháp lý chuyển công tác, thôi việc, bị cho thôi việc hoặc nghỉ hưu.

          6. Luật hóa cơ chế trực trợ giúp pháp lý tại Toà án nhân dân và trong điều tra hình sự, cơ chế phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

          Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi là luật hóa cơ chế trực trợ giúp pháp lý tại Toà án nhân dân và trong điều tra hình sự, cơ chế phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, qua đó nâng tầm một cơ chế đang được vận hành hiệu quả trong thực tiễn lên thành quy định có giá trị pháp lý cao trong văn bản luật. Quy định này giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Cụ thể, Điều 41 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 17 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý quy định về trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng:

          - Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý được hưởng quyền trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

          - Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh.

          - Các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.

          7. Tăng cường trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan nhà nước có liên quan trong hoạt động trợ giúp pháp lý

           Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý đã sửa đổi, bổ sung Điều 42 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định rõ hơn trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan nhà nước có liên quan trong công tác trợ giúp pháp lý. Lần đầu tiên vai trò giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được ghi nhận trực tiếp trong luật, qua đó khẳng định vị trí của tổ chức này không chỉ là chủ thể phối hợp mà còn là lực lượng tham gia bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách.

          8. Ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong trợ giúp pháp lý

          Theo quy định mới, Bộ Tư pháp được giao vai trò đầu mối, chủ trì triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động trợ giúp pháp lý; đồng thời xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý. Đáng chú ý, dữ liệu trợ giúp pháp lý sẽ được kết nối, tích hợp, chia sẻ với Cổng Pháp luật quốc gia, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ.

          Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong Luật không chỉ giúp nâng cao tính công khai, minh bạch, giảm thủ tục hành chính mà còn tạo điều kiện để người dân, ở bất kỳ đâu, có thể tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý một cách dễ dàng hơn. Đây là bước tiến quan trọng góp phần đưa chính sách trợ giúp pháp lý đến gần hơn với người dân, phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ số, xã hội số và bảo đảm quyền tiếp cận công lý trong kỷ nguyên số.

          Có thể thấy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người dân, tạo nền tảng pháp lý đồng bộ, hiện đại và linh hoạt hơn cho hoạt động trợ giúp pháp lý trong giai đoạn mới; qua đó góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm công bằng xã hội./.

QR Code
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
  image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 0
  • Tất cả: 0