image banner
Một số điểm hạn chế của Luật Nuôi con nuôi

Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011.

Sau 15 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Luật Nuôi con nuôi tồn tại một số điểm khó khăn, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện như sau:

Thứ nhất, về đăng ký nuôi con nuôi trong nước

- Khó khăn khi chấm dứt thủ tục đăng ký nuôi con nuôi:

Khoản 3, Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định: “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”. Tuy nhiên, trong trường hợp cha mẹ nuôi không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng hoặc chết, có người khác muốn nhận người dưới 18 tuổi làm con nuôi thì cơ quan có thẩm quyền không thể đăng ký nuôi con nuôi vì quan hệ nuôi con nuôi đã xác lập trước đây không thuộc các trường hợp được chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật (Điều 25 Luật Nuôi con nuôi), gây thiệt thòi cho người dưới 18 tuổi.

- Khó khăn do chưa có quy định đối với một số nội dung trong giải quyết việc nuôi con nuôi:

Theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi về việc xác định điều kiện nuôi con nuôi: “Người nhận con nuôi phải có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”. Tuy nhiên chưa có quy định tiêu chí cụ thể hay văn bản hướng dẫn để xác định thế nào là có điều kiện kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi phù hợp với mỗi vùng, miền, địa phương. 

Điểm b, khoản 2, Điều 15 Luật Nuôi con nuôi quy định: “Trường hợp trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng thì người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm báo cáo UBND cấp xã nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay thế cho trẻ em…”. Nhưng Luật Nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là không có khả năng nuôi dưỡng, việc xác định, tìm gia đình thay thế cho các trường hợp này là hết sức khó khăn, chủ yếu thông qua các tổ chức xã hội, từ thiện.

- Khoản 1, Điều 23 Luật Nuôi con nuôi quy định: “Sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng”. Quy định này khó thực thi trong trường hợp cha mẹ nuôi chuyển đi cư trú ở địa phương khác thì UBND cấp xã nơi thường trú mới không thể biết mối quan hệ nuôi con nuôi để theo dõi, nhắc nhở họ việc thực hiện quy định này.

Thứ hai, về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Khó khăn trong việc xác minh nguồn gốc của trẻ em bị bỏ rơi:

Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Nuôi con nuôi thì: “Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi cần được xác minh thì Sở Tư pháp đề nghị Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh; cơ quan công an có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp”. Trên thực tế, nhiều trường hợp cha, mẹ đẻ của trẻ em bị bỏ rơi thường trú tại tỉnh, thành phố khác, nhưng lại bỏ rơi trẻ em tại thành phố Hải Phòng. Khi bỏ con, cha mẹ đẻ thường cố tình che dấu thân phận nên không để lại địa chỉ, tài liệu, giấy tờ chứng minh gốc của trẻ hoặc có để lại giấy tờ, tài liệu chứng minh thì không chính xác dẫn đến khó khăn trong việc xác định nguồn gốc của trẻ bị bỏ rơi. Do đó, Công an thành phố khó có thể đảm bảo thời hạn xác minh và trả lời bằng văn bản là 30 ngày sau khi nhận được đề nghị xác minh về nguồn gốc của trẻ em bị bỏ rơi của Sở Tư pháp.   

- Khó khăn trong việc sử dụng khoản kinh phí từ nguồn thu chi phí cho Sở Tư pháp trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi: Tại điểm b Khoản 2 Điều 2 Thông tư Liên tịch số 146/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 07/9/2012 của Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực nuôi con nuôi từ nguồn thu lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép của tổ chức con nuôi nước ngoài, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoàiquy định:

“Sở Tư pháp: Được để lại sử dụng 10% số thu chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, trong đó: 5% số thu chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài để xác minh nguồn gốc trẻ em được cho làm con nuôi, 5% số thu chi phí giải quyết con nuôi nước ngoài để hoàn tất thủ tục và giao nhận con nuôi”

Sau khi hoàn thành việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Bộ Tư pháp sẽ chuyển 10% số thu chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài về Sở Tài chính để Sở Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi đến nay, Sở Tư pháp không sử dụng nguồn thu chi phí này do chưa có định mức chi cụ thể để có cơ sở thanh toán./.

QR Code
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH
image advertisement
 
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
  image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 0
  • Tất cả: 0