image banner
Những bất cập trong quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại, Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để thừa phát lại hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, trong thời gian qua thực tiễn công tác thừa phát lại đã phát sinh một số vấn đề chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hoặc quy định pháp luật hiện hành không còn phù hợp. Vì vậy, hiện nay việc hoàn thiện thể chế thừa phát lại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới là một nhiệm vụ cấp thiết, nằm trong lộ trình cải cách tư pháp. Dưới đây là một số nội dung quy định cần hoàn thiện và các giải pháp đề xuất.

1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại 

Hiện nay, thành phố Hải Phòng có 11 Văn phòng Thừa phát lại với 16 Thừa phát lại, số lượng vi bằng đã lập được theo từng năm là: Năm 2014: 39 vi bằng; năm 2015: 169 vi bằng; năm 2016: 330 vi bằng; năm 2017: 418 vi bằng; năm 2018: 559 vi bằng; năm 2019: 1.341 vi bằng; năm 2020: 1.682 vi bằng; năm 2021: 4.453 vi bằng; năm 2022: 5.529 vi bằng; năm 2023: 5.225 vi bằng; năm 2024: 6.230 vi bằng; tính đến hết tháng 9 năm 2025 là 6.842 vi bằng. Như vậy, số lượng vi bằng được lập năm sau đều cao hơn năm trước. Về lĩnh vực tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu thực tế đến thời điểm hiện tại trên địa bàn thành phố có 08/11 Văn phòng Thừa phát thực hiện được việc tống đạt các văn bản của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự; từ năm 2016 đến nay, 08/11 Văn phòng thực hiện tống đạt được 253.480 văn bản. Về lĩnh vực xác minh điều kiện thi hành án có 01/11 Văn phòng Thừa phát thực hiện xác minh điệu kiện thi hành án 01 việc và tính đến thời điểm hiện tại chưa có Văn phòng Thừa phát lại thực hiện trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự. 

Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân thành phố quản lý nhà nước về Thừa phát lại trên địa bàn thành phố đã có nhiều biện pháp để tăng cường quản lý nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ cho tổ chức và hoạt động Thừa phát lại, cụ thể: Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và thực hiện thủ tục trình Ủy ban nhân dân thành phố cho phép thành lập văn phòng, chuyển đổi loại hình hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại; Cấp Giấy đăng ký hoạt động Văn phòng Thừa phát lại; nhiều lượt cấp lại Giấy đăng ký hoạt động đối với các văn phòng khi có sự thay đổi; đăng ký tập sự,  đăng ký dự thi sát hạch nghề thừa phát lại; cấp, thu hồi, cấp lại thẻ Thừa phát lại…;  vào sổ đăng ký vi bằng đầy đủ theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm tra, thanh tra các văn phòng Thừa phát lại theo đúng quy định. 

Qua công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thừa phát lại theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại (sau đây gọi tắt là số Nghị định số 08/2020/NĐ-CP), nhận thấy có một số hạn chế, vướng mắc như sau: 

1. Tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật”, tuy nhiên, giá trị chứng cứ của vi bằng chưa được thừa nhận và quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật liên quan. Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: “… 8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập. 9. Văn bản công chứng, chứng thực. 10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định”. Theo đó, giá trị chứng cứ của vi bằng có thể được hiểu theo khoản 8 hoặc khoản 10 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên, để khẳng định được giá trị của chứng cứ, vẫn cần quy định cụ thể hơn về vấn đề trên.

2. Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về thủ tục lập vi bằng:

+ Khoản 1 Điều 39  quy định “Thừa phát lại phải trực tiếp chứng kiến, lập vi bằng và chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và trước pháp luật về vi bằng do mình lập…”. Để chứng minh việc Thừa phát lại đã trực tiếp chứng kiến việc lập vi bằng theo quy định, các Thừa phát lại đính kèm file nội dung vi bằng là hình ảnh Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng cùng có mặt tại thời điểm lập vi bằng. Tuy nhiên, hiện chưa có văn bản quy định rõ ràng về việc này, dẫn đến có Thừa phát lại chỉ gửi hình ảnh người yêu cầu lập vi bằng, gây khó khăn cho Sở Tư pháp trong việc xác định Thừa phát lại có trực tiếp chứng kiến việc lập vi bằng hay không. 

+ Khoản 4 Điều 39 quy định “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc lập vi bằng, Văn phòng Thừa phát lại phải gửi vi bằng, tài liệu chứng minh (nếu có) đến Sở Tư pháp nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở để vào sổ đăng ký…”. Như vậy, không có quy định vi bằng không gửi đúng thời hạn thì có được đăng ký hay không và không có chế tài, hướng dẫn cụ thể nào cho việc từ chối đăng ký vi bằng nếu quá hạn. Việc gửi và đăng ký chỉ là một thủ tục hành chính, không phải là điều kiện để vi bằng có hiệu lực và không ảnh hưởng đến giá trị chứng cứ của vi bằng.

Điều 30 Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã quy định cụ thể hơn về việc đăng ký vi bằng nhưng cũng chỉ nêu chung chung “...Sở Tư pháp ghi vào sổ đăng ký vi bằng hoặc duyệt nội dung cập nhật trên cơ sở dữ liệu về vi bằng theo quy định tại khoản 4 Điều 39 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP để theo dõi, quản lý việc lập vi bằng...”.

Trong trường hợp này, Sở Tư pháp sẽ vẫn phải thực hiện việc đăng ký vi bằng, mặc dù vi bằng đó được nộp muộn. Việc không có quy định rõ ràng về việc từ chối đã tạo ra một khoảng trống pháp lý, khiến cơ quan quản lý không có cơ sở để từ chối đăng ký vi bằng.

2. Đề xuất giải pháp

Để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập nêu trên xin đề xuất một số giải pháp sau:

- Xây dựng Luật về Thừa phát: Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh và hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, bao gồm: Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn. Trong khi đó, các văn bản điều chỉnh ở lĩnh vực Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Thi hành án dân sự đều là Luật và các lĩnh vực bổ trợ tư pháp có chức danh tư pháp như công chứng, luật sư, đấu giá tài sản, giám định tư pháp… đều có Luật chuyên ngành điều chỉnh. Thực tế cho thấy, các hoạt động của Thừa phát lại ngày càng phát triển mạnh mẽ về phạm vi, số lượng vụ việc nhưng đang gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý cao hơn, có tính chất ổn định và bền vững hơn. 

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, truyền thông về hoạt động Thừa phát lại với nhiều hình thức và lựa chọn nội dung xúc tích dễ hiểu, tập trung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò và ý nghĩa của Thừa phát lại để người dân, tổ chức, doanh nghiệp hiểu biết hơn về pháp luật, đồng thuận, ủng hộ, tin tưởng và sử dụng dịch vụ Thừa phát lại.

- Ban hành quy chế phối hợp liên ngành giữa ngành Tư pháp với các cơ quan Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Thi hành án dân sự và các cơ quan có liên quan về công tác quản lý tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, cụ thể gồm: Việc chuyển giao văn bản tống đạt, việc xác minh và sử dụng kết quả xác minh, việc tổ chức thi hành án, việc giải quyết khiếu nại trong thi hành án cho các Văn phòng Thừa phát lại.

- Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác đào tạo nguồn Thừa phát lại để kịp thời đáp ứng yêu cầu của hoạt động Thừa phát lại trong giai đoạn hiện nay; Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu để nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho công chức được giao thực hiện nhiệm vụ này và kỹ năng hành nghề cho đội ngũ Thừa phát lại trong quá trình hành nghề.

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tế, cụ thể:

(1) Điều 6. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thừa phát lại

1. Là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt.

2. Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật.

3. Có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật.

4. Tốt nghiệp khóa đào tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Thừa phát lại quy định tại Điều 7 của Nghị định này.

5. Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa phát lại.

Khoản 1 Điều 6 quy định là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam. Quy định như vậy là chưa xem xét đến trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nguyện vọng và đủ điều kiện hành nghề Thừa phát lại tại Việt Nam. 

Nên bổ sung, mở rộng đối tượng bổ nhiệm Thừa phát lại, bao gồm “người Việt Nam định cư ở nước ngoài nếu đáp ứng đủ điều kiện về trình độ, kinh nghiệm”.

Lý do: Tạo điều kiện thu hút nhân sự có chất lượng, nhất là người Việt Nam ở nước ngoài có chuyên môn cao.

(2) Điều 10. Bổ nhiệm Thừa phát lại

1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 6 của Nghị định này nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính 01 bộ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại đến Sở Tư pháp nơi đăng ký tập sự. Hồ sơ bao gồm:

a) Đơn đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định;

b) Phiếu lý lịch tư pháp được cấp trong thời hạn 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;

…..

Điểm b khoản 1 quy định về thành phần hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại: “b) Phiếu lý lịch tư pháp được cấp trong thời hạn 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;” 

Nên bổ sung thêm cụ thể loại phiếu Lý lịch tư pháp thành “b) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cấp trong thời hạn 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;” vì chỉ có phiếu Lý lịch tư pháp số 2 mới có thông tin của các án tích dù người đó đã được xóa án tích.

Lý do: Để phù hợp với khoản 4 Điều 11 quy định những trường hợp không được bổ nhiệm Thừa phát lại “4. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án về tội phạm do vô ý, tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý mà chưa được xóa án tích; người đã bị kết án về tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian lận, gian dối, xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả trường hợp đã được xóa án tích.” 

Tương tự tại điểm b khoản 4 Điều 14 quy định về thành phần hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại cũng nên quy định rõ là Phiếu lý lịch tư pháp số 2 để phù hợp với quy định của khoản 3 Điều này.

(3) Điều 16. Quyền và nghĩa vụ của Thừa phát lại: 

1. Trung thực, khách quan khi thực hiện công việc.

2. Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại.

3. Chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và trước pháp luật về việc thực hiện công việc của mình.

4. Không đồng thời hành nghề tại 02 hoặc nhiều Văn phòng Thừa phát lại.

5. Tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa phát lại hàng năm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

6. Mặc trang phục Thừa phát lại theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, đeo thẻ Thừa phát lại khi hành nghề. 

7. Tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Thừa phát lại (nếu có); chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của Văn phòng Thừa phát lại nơi mình đang hành nghề và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Thừa phát lại mà mình là thành viên.

8. Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Khoản 6 Điều 16 quy định Thừa phát lại phải mặc trang phục Thừa phát lại khi hành nghề. Nên quy định cụ thể là phải mặc trang phục Thừa phát lại khi thực hiện việc tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án thể hiện sự uy nghiêm khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật tố tụng, còn hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại mang tính cung cấp dịch vụ pháp lý giống các công việc của luật sư, công chứng viên…, Thừa phát lại không cần phải mặc trang phục Thừa phát lại khi lập vi bằng mà chỉ cần quy định Thừa phát lại mặc trang phục lịch sự và đeo thẻ.

(4) Điều 25. Thay đổi thành viên hợp danh của Văn phòng Thừa phát lại

1. Tư cách thành viên hợp danh của Văn phòng Thừa phát lại chấm dứt trong các trường hợp sau đây: 

a) Theo nguyện vọng cá nhân của Thừa phát lại hợp danh nếu được các Thừa phát lại hợp danh còn lại đồng ý;

…..

Điểm a khoản 1 Điều 25 quy định yêu cầu sự đồng thuận của tất cả các thành viên hợp danh khi thay đổi nhân sự. Quy định này có thể gây khó khăn trong trường hợp có thành viên hợp danh không hợp tác hoặc vắng mặt, làm trì hoãn quá trình thay đổi và ảnh hưởng đến hoạt động của Văn phòng.

Nên cho phép áp dụng cơ chế biểu quyết theo đa số trong các trường hợp hợp lý để tăng tính linh hoạt và đảm bảo hiệu quả hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại.

(5) Điều 39. Thủ tục lập vi bằng 

1. Thừa phát lại phải trực tiếp chứng kiến, lập vi bằng và chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và trước pháp luật về vi bằng do mình lập. Việc ghi nhận sự kiện, hành vi trong vi bằng phải khách quan, trung thực. Trong trường hợp cần thiết, Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng chứng kiến việc lập vi bằng.

Người yêu cầu phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến việc lập vi bằng (nếu có) và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp.

Khi lập vi bằng, Thừa phát lại phải giải thích rõ cho người yêu cầu về giá trị pháp lý của vi bằng. Người yêu cầu phải ký hoặc điểm chỉ vào vi bằng.

2. Vi bằng phải được Thừa phát lại ký vào từng trang, đóng dấu Văn phòng Thừa phát lại và ghi vào sổ vi bằng được lập theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.

- Quy định thêm nội dung các Văn phòng Thừa phát lại gửi hình ảnh trực tiếp chứng kiến kèm theo vi bằng đến Sở Tư pháp 

- Quy định thêm nội dung trường hợp Văn phòng Thừa phát lại gửi vi bằng phê duyệt muộn thì vi bằng đó không có giá trị pháp lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu về vi bằng của Sở Tư pháp. 

Quy định như vậy để tăng trách nhiệm của các Văn phòng Thừa phát lại trong việc thực hiện quy định về việc gửi vi bằng, tài liệu cho Sở Tư pháp.

(6) Điều 41. Sửa lỗi kỹ thuật vi bằng

1. Trong trường hợp có sai sót về kỹ thuật trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn vi bằng mà việc sửa không làm ảnh hưởng đến tính xác thực của sự kiện, hành vi được lập vi bằng thì Thừa phát lại có trách nhiệm sửa lỗi đó. Việc sửa lỗi kỹ thuật vi bằng được thực hiện tại Văn phòng Thừa phát lại đã lập vi bằng đó.

2. Thừa phát lại thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi nội dung đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng dấu của Văn phòng Thừa phát lại.

3. Trong trường hợp vi bằng đã được gửi cho người yêu cầu và Sở Tư pháp thì Văn phòng Thừa phát lại phải gửi vi bằng đã được sửa lỗi kỹ thuật cho người yêu cầu và Sở Tư pháp.

Khoản 3 quy định trường hợp vi bằng đã được gửi đi sau đó Thừa phát lại phát hiện lỗi, sau khi sửa lỗi kỹ thuật thì gửi lại vi bằng đã được sửa nhưng không nêu đối với các vi bằng cũ đã được đăng ký tại Sở Tư pháp thì xử lý thế nào. 

Nên quy định thêm nội dung Văn phòng Thừa phát lại phải thu hồi lại vi bằng đã gửi nhưng có sai sót để tránh trường hợp tồn tại song song cùng lúc 02 bản vi bằng.

Việc hoàn thiện thể chế thừa phát lại là một yêu cầu tất yếu để phát triển một nền tư pháp hiện đại và hiệu quả. Bằng cách ban hành Luật Thừa phát lại, mở rộng thẩm quyền, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường công tác quản lý, Việt Nam sẽ tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, an toàn, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nguyễn Phương

QR Code
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH
image advertisement
 
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
  image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 0
  • Tất cả: 0